Monday, September 23, 2013

Bài thuốc cây xạ đen và hiệu quả điều trị ung thư

Bài thuốc cây xạ đen và hiệu quả điều trị ung thư (VietNamNet) - Thời gian gần đây, một phòng khám của Hội Đông y tỉnh Hoà Bình trở nên tấp nập từ sáng đến đêm. Hầu hết người đến đây chờ bắt mạch, kê đơn là bệnh nhân ung thư, với hy vọng khỏi chứng nan y nhờ bài thuốc có đầu vị là cây xạ đen do một cố lương y dân tộc Mường để lại. Mế Hậu - người tìm ra bài thuốc cây xạ đen bắt mạch cho bệnh nhân. Sáng 14/3 ở phòng khám Đông y số 6 (số 35, tổ 7, đường Nguyễn Thái Học, phường Đồng Tiến, thị xã Hoà Bình), nơi bà Đinh Thị Phiển - con gái cố lương y Bùi Thị Bẻn (còn gọi là Mế Hậu) bắt mạch, kê đơn, bà Vũ Việt Anh (Ba Đình, Hà Nội) bị ung thư vòm nói: "’Tôi vừa xạ trị 30 mũi ở Bệnh viện K, nghe tin bài thuốc cây xạ đen, tìm về đây xin bốc uống, mong đỡ bệnh". Cũng như bà Việt Anh, gần 30 bệnh nhân ung thư và người nhà tìm đến phòng khám của lương y Đinh Thị Phiển xin thuốc cây xạ đen sáng hôm ấy đều không hy vọng thoát căn bệnh khoa học còn bó tay này, vì "nếu khỏi, bài thuốc đã giật giải Nobel". Hầu hết đều chỉ mong muốn nhờ bài thuốc có xạ đen mà giảm triệu chứng mệt mỏi, đau đớn của căn bệnh hiểm và kéo dài tuổi thọ. Phóng viên VietNamNet đã tìm gặp một số người bệnh ung thư may mắn đỡ đau, khoẻ lên sau khi uống các thang thuốc với đầu vị là xạ đen bà lương y Phiển bốc cho họ. Ông Phạm Văn Bài - bệnh nhân ung thư phổi 53 tuổi ở thôn Thị Đức, xã Nhật Tân, huyện Gia Lộc, Hải Dương, cho biết, sau khi ông được bệnh viện tỉnh cho về nhà điều trị, gia đình đã mang hồ sơ bệnh án đến lương y Phiển và xin bà cho thuốc. Ông không ngờ sau khi uống 3 thang, bệnh chuyển. 20 thang tiếp, ông đã nói ra tiếng, người nhẹ hơn. 30 thang sau nữa, ông bắt đầu ăn ngủ được, thể lực khá hẳn. Một bệnh nhân khác cũng ngạc nhiên trước sự thay đổi chất lượng cuộc sống rõ rệt mà những thang thuốc sắc bình dị này mang lại. Nguyên phi công Nguyễn Văn Tụ (số 2, tổ 97, phường Chương Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội) sau khi được bệnh viện chẩn đoán là ung thư dạ dày và không mổ đã dùng 30 thang thuốc có xạ đen, cảm thấy trạng thái toàn thân dễ chịu từng ngày, các cơn đau ít và đỡ dần; nay đã tự túc trở lại mọi sinh hoạt cá nhân. Ông Bài, ông Tụ và các bệnh nhân ung thư khác đều được lương y Đinh Thị Phiển bắt mạch, xem xét kỹ hồ sơ bệnh án (với các kết quả xét nghiệm và chẩn đoán lâm sàng của y học hiện đại) rồi kê thuốc với lượng nhiều ít xạ đen, đinh râu, xạ bái và các vị khác tuỳ loại và mức độ bệnh. Mỗi người chỉ tốn trên dưới 1 triệu đồng tiền thuốc cho đến lúc chuyển bệnh và khoẻ lại. Khoa học đã công nhận bài thuốc cây xạ đen Nhiều chục năm trước, cây xạ đen (hay xạ đen cuống, tiếng Mường gọi là Xạ cái) từng được lương y dân tộc Mường Bùi Thị Bẻn (bệnh nhân thường gọi là mế Hậu, ở huyện Kim Bôi, Hoà Bình) đặt tên là cây ung thư, chuyên dùng để chữa các loại u khối. Bài thuốc cây xạ đen, dù sau đó được mế tặng cho Hội Đông y tỉnh Hoà Bình, vẫn ít người biết đến. Chỉ kể từ năm 1987, khi được đoàn bác sĩ Học viện Quân y (do GS.TSKH Lê Thế Trung - Chủ tịch Hội Ung thư TP.Hà Nội dẫn đầu) phát hiện trong chuyến sưu tầm các bài thuốc quý trong dân gian, cây xạ đen mới bắt đầu thu hút sự chú ý của giới khoa học và được đưa về cơ sở này để nghiên cứu. Qua nghiên cứu về thực vật học, hoá dược, dược lý, nghiên cứu thực nghiệm trên động vật được gây ung thư (theo đề tài cấp Bộ về xạ đen do GS. Lê Thế Trung làm chủ nhiệm), các bác sĩ đã phát hiện ở loài cây này tác dụng hạn chế sự phát triển của khối u ác tính. Hơn nữa, theo GS. Trung, hợp chất lấy từ xạ đen nếu được kết hợp với chất Phylamin (lấy từ một loại thảo dược ở đồng bằng) còn phát huy tác dụng, kéo dài tuổi thọ trung bình của động vật bị ung thư hơn nhiều chất đã qua nghiên cứu thực nghiệm như Trinh nữ hoàng cung hay tỏi Thái Lan. Đến cuối năm 1999, đề tài của các bác sĩ Học viện Quân y được nghiệm thu, cây xạ đen chính thức được công nhận là một trong không nhiều những vị thuốc nam có tác dụng điều trị hỗ trợ bệnh nhân ung thư. Cuối năm 2002, người bệnh mới biết đến loài cây này qua câu chuyện của GS. Trung trong Chương trình Người đương thời (VTV3) và tìm về phòng khám Đông y nơi con gái mế Hậu - lương y Đinh Thị Phiển làm việc ngày một đông. Cẩn thận với xạ đen rởm Từ khi được nhiều người biết đến, xạ đen trở thành đối tượng chính của dân săn dược liệu. Từ đầu năm Quý Mùi, xạ đen khan hiếm hơn, giá thị trường tăng từ 50.000 đồng lên 150.000-200.000 đồng/kg khô. Phòng khám của lương y Đinh Thị Phiển trở thành nơi tiếp không chỉ bệnh nhân và người nhà; dân buôn dược liệu thi thoảng cũng ghé qua xin bà xem giúp những thứ cây nhét chặt trong các bao của họ có đúng là loài cây quý. Lương y Đinh Thị Phiển cho biết, có đến 3/4 số cây bà được hỏi không phải là xạ đen; phần lớn là cây thuỷ bồ (hoặc thạch xương bồ, nếu mọc trên đá). Những loài cây này cũng có lá xanh và chát gần giống lá chè nhưng không lớn hoặc sẫm bằng xạ đen. Đặc biệt, không chuyển màu đen mực ngay sau khi bị băm nhỏ như loài dược thảo quý này. Bà Phiển dự đoán, những thứ xạ đen giả nói trên sẽ được tải về các kho thuốc đông y và cắt cho bệnh nhân nhiều tỉnh. Còn ở nhà bà lương y nối nghiệp trị bệnh, cứu người của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác và người mẹ đã quá cố, cây xạ đen sẽ mãi là thật, dù người ta có nhao nhác đi tìm của giả để thay thế và nguyên liệu thuốc có tăng giá đến đâu. Để người bệnh ung thư còn chí ít là một trong mười phương được sống và sống chất lượng nhất trong khả năng có thể. http://www.ykhoa.net/yhoccotruyen/baiviet/29_042.htm

Điều trị hỗ trợ ung thư bằng thảo dược

Điều trị hỗ trợ ung thư bằng thảo dược Đông y đã có nhiều kinh nghiệm quý để điều trị một số thể ung thư, ức chế các khối u phát triển. Trong khi các nhà khoa học tìm cách bào chế thuốc chữa ung thư từ thảo dược, bệnh nhân có thể sử dụng một số cây thuốc để hỗ trợ điều trị bệnh này. Thuốc cổ truyền trị ung thư thường có các vị: đương quy Trung Quốc, đương quy Nhật Bản, phụ tử, đinh hương, uy linh tiên, trinh nữ hoàng cung, đu đủ, tam thất, nghệ và những vị khác. Đương quy: Cây đương quy Nhật Bản (Angelica acutiloba) đã được di thực, thuần hóa tại nước ta. Thí nghiệm trên động vật cho thấy, hợp chất polysacharid từ rễ cây này có tác dụng phục hồi miễn dịch đối với những tổn thương do hóa trị; giúp thương tổn cấu trúc của lách và tủy xương phục hồi gần bằng mức bình thường. Trong ống nghiệm, polysacharid đương quy làm tăng lượng tế bào lim-phô T nói chung và tế bào lim-phô T hoạt động, đồng thời phục hồi khả năng tạo hồng cầu của tế bào này. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy đương quy bảo vệ hệ thống miễn dịch đối với những bệnh nhân ung thư vòm họng đang điều trị bằng tia xạ. Thuốc làm tăng sức đề kháng, tăng chất lượng hồng cầu và hạn chế sự suy giảm tỷ lệ huyết sắc tố. Trên bệnh nhân ung thư vú đang điều trị bằng tia xạ và hóa chất hoặc trên bệnh nhân ung thư các loại đang dùng đa hóa trị liệu, polysacharid đương quy với liều 1 g mỗi ngày có tác dụng bổ trợ miễn dịch, giúp phục hồi sớm một số dòng tế bào máu (bạch cầu, tiểu cầu, tế bào lim-phô T) đã bị giảm do trị liệu với hóa chất và tia xạ. Nghệ: Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh nghệ có tác dụng dự phòng ung thư dạ dày, ung thư da, ung thư vú và ung thư gan; giảm số lượng và kích thước các ổ ung thư. Hoạt chất curcumin chiết xuất từ củ nghệ có khả năng dự phòng và điều trị ung thư do ngăn chặn sự tăng sinh của nhiều loại tế bào u khác nhau. Curcumin còn có tác dụng chống viêm và chống ôxy hóa mạnh. Trong thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ung thư, việc sử dụng currumin với liều 10 g/kg tỏ ra an toàn, không gây những tác dụng không mong muốn. Chàm lá nhỏ: Một loại thuốc viên của y học cổ truyền Trung Quốc bào chế từ chàm lá nhỏ và một số vị khác đã được dùng điều trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính. Chàm lá nhỏ được chứng minh là thành phần chính có tác dụng chống căn bệnh này. Chất indirubin trong chàm lá nhỏ có hiệu quả điều trị rõ rệt với khối u ở động vật và với bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính trên người. Hoàng liên, hoàng bá: Là các dược liệu chứa berberin, có trong bài thuốc trị ung thư của y học cổ truyền Trung Quốc. Berberin ức chế sự sinh trưởng tế bào u gan ở người, làm chậm sự tăng sinh các tế bào bệnh bạch cầu trên động vật thí nghiệm và các tế bào ung thư vòm họng, ung thư dạ dày, các tế bào bệnh bạch cầu tiền tủy bào, các tế bào ung thư miệng và ung thư kết tràng. Hoàng cầm: Hoàng cầm có trong bài thuốc trị ung thư của y học cổ truyền; chứa các flavonoid, baicalein, baicalin, wogonin và wogonosid...Baicalin ức chế sự sinh trưởng các tế bào u gan của người và các tế bào ung thư tuyến tụy. Baicalin, baicalein và wogonin có tác dụng độc hại đối với các tế bào ung thư bàng quang ở người và động vật thí nghiệm, trong đó baicalin có tác dụng mạnh nhất. Baicalein cũng ức chế sự tăng sinh của 3 dòng tế bào ung thư gan của người, nhiều dòng tế bào ung thư tiền liệt tuyến, các tế bào bệnh bạch cầu lym-phô và các tế bào ung thư vú ở người. Baicalein và wogonin làm thuyên giảm u não, ngăn chặn sự xâm nhập và di căn các tế bào u hắc sắc tố. Vân mộc hương: Vân mộc hương có bài thuốc chống ung thư của y học cổ truyền, chứa các hoạt chất lappadilacton, dehydro-costuslacton và costunolid, có tác dụng độc hại đối với các dòng tế bào ung thư gan của người. Tam thất, trinh nữ hoàng cung, đu đủ: Trên mô hình gây u báng thực nghiệm trên động vật bằng cấy tế bào ung thư ác tính, cao chiết tam thất và chế phẩm panacrin sản xuất từ tam thất, trinh nữ hoàng cung, đu đủ đã làm giảm sinh khối của u báng, do đó làm giảm tốc độ phát triển khối u. Panacrin hạn chế sự di căn của tế bào ung thư và kéo dài thời gian sống của động vật mang khối u được điều trị với thuốc lên gần gấp đôi. Chỉ thiên: Deoxyelephantopin từ chỉ thiên ức chế đáng kể sự phát triển của ung thư biểu mô. Dihydroelephantopin ức chế sự phát triển những tế bào ung thư bệnh bạch cầu. Các bài thuốc: Chữa di căn bệnh bạch cầu lim-phô: Cỏ chỉ thiên trộn với muối và giấm, giã nhỏ và đắp vào nơi tổn thương. Điều trị hỗ trợ ung thư cho bệnh nhân không bị giảm thể trọng: Đương quy 15 g, bạch thược 10 g, nghệ 10 g, vân mộc hương 6 g, đinh hương 5 g. Sắc uống ngày một thang, chia 3 lần. Chữa u báng và kết hạch: Xạ can 10 g, nghệ đen 8 g, xuyên khung 6 g. Sắc uống ngày một thang. Trị bệnh bạch cầu hạt: Bột chàm mỗi lần uống 0,9-1,5 g, ngày 3 lần. Trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính: Đương quy 15 g; hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm mỗi vị 10 g; vân mộc hương, bột chàm mỗi vị 5 g. Sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần uống. Điều trị hỗ trợ ung thư các cơ quan đường tiêu hóa, ung thư vú, ung thư tử cung: Đương quy 15 g; bạch thược, gừng mỗi vị 10 g, vân mộc hương 4 g, đinh hương 4 g. Sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần uống. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống) http://hdp.com.vn/vi/ung-thu-1/182-dieu-tri-ho-tro-ung-thu-bang-thao-duoc.html

Xáo tam phân, nấm lim xanh, cỏ lưỡi rắn trắng… là những thảo mộc chữa được căn bệnh ung thư mà khoa học đã chứng minh.

Xáo tam phân, nấm lim xanh, cỏ lưỡi rắn trắng… là những thảo mộc chữa được căn bệnh ung thư mà khoa học đã chứng minh. http://vtc.vn/321-360437/suc-khoe/nhung-thao-moc-nao-co-the-chua-duoc-ung-thu.htm

Sunday, September 22, 2013

5-BỆNH UNG THƯ NỘI TẠNG

5-BỆNH UNG THƯ NỘI TẠNG Lá đu đủ đực thật hay (cả cành lá) Để vào nồi đất sắc ngay nước nhiều Để vào tủ lạnh đừng thiêu Uống thay nước lạnh càng nhiều càng hay Tiếp tục cứ uống hằng ngày Thường đi bách bộ cho bài tiết ra Vận động hơi thở điều hòa Ăn được gạo lức thì là tốt hơn Nhai nhuyễn cùng với muối mè Dưỡng sinh trị liệu nên nghe thật hành Nhiều người trị được mạnh lành Ung thư nhiều thuốc chỉ rành trong đây Tụng kinh niệm Phật hằng ngày Cầu xin Tam Bảo giải bày nghiệp oan Bệnh căn sớm được tiêu tan Gặp thầy trúng thuốc bình an mạnh lành. Read more: http://news.tnn.vn/News/home/Nongthon/Caythuoc/2012/5/58D#135-TOA%20THU%E1%BB%90C%20TR%E1%BB%8A%20NHI%E1%BB%80U%20CH%E1%BB%A8NG%20B%E1%BB%86NH%20UNG%20TH%C6%AF,M%C3%81U%20CAO,TI%E1%BB%82U%20%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG,M%C3%81U%20C%C3%93%20M%E1%BB%A0,%20%C4%90AU%20GAN,SUY%20TH%E1%BA%ACN,NHI%E1%BB%86T%20V.V%E2%80%A6#ixzz2fdEl7EFm

11-TRỊ PHONG THẤP TÊ NHỨC VÀ CAO MÁU

11-TRỊ PHONG THẤP TÊ NHỨC VÀ CAO MÁU Cây mắc cỡ,chặt nhỏ phơi khô Nấu như sắc thuốc uống hoài hết ngay Thấy tuy đơn giản mà hay Cũng là diệu dược chữa ngay bệnh tình Read more: http://news.tnn.vn/News/home/Nongthon/Caythuoc/2012/5/58D#135-TOA%20THU%E1%BB%90C%20TR%E1%BB%8A%20NHI%E1%BB%80U%20CH%E1%BB%A8NG%20B%E1%BB%86NH%20UNG%20TH%C6%AF,M%C3%81U%20CAO,TI%E1%BB%82U%20%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG,M%C3%81U%20C%C3%93%20M%E1%BB%A0,%20%C4%90AU%20GAN,SUY%20TH%E1%BA%ACN,NHI%E1%BB%86T%20V.V%E2%80%A6#ixzz2fdEATph7

TRỊ TIỂU ĐƯỜNG THUỐC NGOẠI KHOA

15-TRỊ TIỂU ĐƯỜNG THUỐC NGOẠI KHOA Mật nhân ổi chát trị tiểu đường Cỏ cú, hột me cũng diệu phương Vỏ cóc phơi khô siêng nấu uống Cỏ me, cỏ sữa,trái cao tươi Hoặc là vỏ bưởi đem nấu uống Lá cóc, lá me, trái ổi non Đắng chát hay chua phương diệu dược Bông dừa đệ nhất trị tiểu đường[2] Read more: http://news.tnn.vn/News/home/Nongthon/Caythuoc/2012/5/58D#135-TOA%20THU%E1%BB%90C%20TR%E1%BB%8A%20NHI%E1%BB%80U%20CH%E1%BB%A8NG%20B%E1%BB%86NH%20UNG%20TH%C6%AF,M%C3%81U%20CAO,TI%E1%BB%82U%20%C4%90%C6%AF%E1%BB%9CNG,M%C3%81U%20C%C3%93%20M%E1%BB%A0,%20%C4%90AU%20GAN,SUY%20TH%E1%BA%ACN,NHI%E1%BB%86T%20V.V%E2%80%A6#ixzz2fdDEIgVI

Sầu đâu rừng, Sầu đâu cứt chuột

NHA ĐẢM TỬ (Fructus Brucae Javamiceae) Còn có tên là cây Cứt dê, Khổ sâm cho hạt, Sầu đâu rừng, Sầu đâu cứt chuột, Xoan rừng, Cứt cò (Vĩnh linh), Hạt bỉnh (Nghệ an), Khổ luyện tử. Bộ phận làm thuốc là quả chín phơi khô của cây Sầu đâu rừng (Brucea Javanica (L) Merr) thuộc họ Thanh thất (Simarubaceae). Vị thuốc được ghi đầu tiên trong sách " Bản thảo cương mục thập di tập V." còn có tên Khổ sâm tử. Tính vị qui kinh: Vị đắng tính hàn, qui kinh Can và Đại tràng. Theo tài liệu cổ: Sách Y học Trung trung tham tây lục: vị rất đắng, tính lương. Sách Bản thảo chính nghĩa: đại khổ, đại hàn. Thành phần chủ yếu: + Theo sách Đỗ tất Lợi, trong quả Nha đảm tử có 23% dầu (hoặc 50%, nếu chỉ tính đối với nhân), dầu lỏng màu trắng, có chất glucozit gọi là Kosamin, chất tanin, chất men có thể là men thủy phân, amydalin, chất quassin và một chất saponin. + Theo sách Ứng dụng lâm sàng Trung dược: Nha đảm tử có Nha đảm tử tinh thể I (C12H1605), tinh thể II (C10H16O5), tinh thể III (C17H34O2), glucozit Nha đảm tử (C20H32O9). (theo tài liệu nghiên cứu công thức hóa học của glucozit Nha đảm tử đăng trong " Học báo hóa học" 28(2):96-99;1962) và dầu Nha đảm tử. + Theo sách Trung dược học thì thành phần chủ yếu của Nha đảm tử là chất Khổ vị tố, trong đó phân ra được 9 loại đơn thể gọi là Nha đảm tử khổ tố A,B,C, D, E, F, G,. glucozit và lượng lớn dầu Nha đảm tử (hàm lượng 36, 8 - 56,2). + Theo sách Dược liệu (Nhà xuất bản Y học 1985): thành phần gồm có chất dầu (55%) và các chất thuộc nhóm simarubolit. Tác dụng dưọc lý: Tác dụng diệt amip dạng hoạt động (nguyên trùng), in vitro và in vivo đều có tác dụng. Nhưng đối với lî mạn tính và lî trực khuẩn tác dụng kém hơn. Thuốc có tác dụng tẩy giun đũa, giun móc, sán, hấp huyết trùng, trùng roi trichomonas. Tác dụng chống sốt rét: Trên súc vật thực nghiệm, thuốc có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của nguyên trùng sốt rét trong gà. Tác dụng kháng virut: Thuốc có tác dụng ức chế virut cúm típ A PR8. Tác dụng chống tế bào ung thư. Nha đảm tử tương đối độc, độc tính chủ yếu là phần đắng hòa tan trong nước. Liều dùng 50 của nước sắc là 0,48g/kg. Thuốc dùng ngoài da dễ gây phản ứng, tại chỗ mạnh ở da và niêm mạc. Thuốc uống thường gây đau bụng, khó chịu, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, đầy bụng, váng đầu, rã rời chân tay. Tỷ lệ gây nhiễm độc thuốc khoảng 78,3%, còn có thể gây xung huyết nội tạng và xuất huyết, rối loạn hô hấp, khó thở. Thời gian dùng thuốc kéo dài có tích lũy độc. Không nên dùng với người có bệnh đường ruột, chức năng gan thận giảm, phụ nữ có thai và trẻ em. Ứng dụng lâm sàng: 1.Trị lî amíp cấp: dùng Nha đảm tử 12 cái bọc nhựa chia 3 lần uống trong ngày, đồng thời dùng 20 hạt ngâm trong 200ml nước sau 2 giờ ( ngâm vào 200ml dung dịch 1% natri bicacbonat sau 1 giờ đến 2 giờ thụt rửa đại tràng, mỗi ngày 1 lần, 10 ngày là một liệu trình. Trị 65 ca, kết quả trước mắt 94% (Tạp chí Trung y 1956,1:6). 2.Trị sốt rét: dùng Nha đảm tử nhân đã khử dầu tán nát, mỗi lần 12 hạt viên bọc nhựa, ngày uống 3 lần, uống trước bữa ăn, đã chữa 27 ca kết quả tốt (Báo Y dược học 1952,1:28). Có tác dụng đối với các loại ký sinh trùng sốt rét, đối với loại cách nhật là tốt hơn cả. Có tác giả báo cáo kết quả chống sốt rét không chắc chắn, hiện ít dùng. Theo GS Đỗ tất Lợi để chữa sốt rét ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 1g quả sau bữa ăn. Uống liều 4 - 5 bgày. Phụ nữ có thai vẫn dùng được. 3.Trị mụn cóc: dùng nhân Nha đảm tử tiệt trùng bằng cao áp nghiền nhỏ đắp (trước khi đắp nên rửa bằng cồn hoặc cồn iod, dùng dao vô trùng rạch nhẹ da chảy tí máu), dán băng kín kiêng nước, sau 8 ngày mở ra, nếu chưa rụng bôi cao mềm acid boric, đã trị khỏi 200 ca không để sẹo (Tạp chí trung hoa bì phu khoa 1957,4:360). 4.Trị nốt ruồi: dùng Nha đảm tử cả vỏ (lượng 3 - 5g giã nát vụn bỏ vào lọ, cho vào một dung tích cồn 75% bằng lượng thuốc ngâm một ngày đêm, thuốc thấm với tăm bông bôi vào nốt ruồi, ngày 2 - 3 lần, kết quả tốt (Trung dược thông báo 1986,9:59). 5.Trị chai chân: dùng 11 - 13 nhân Nha đảm tử giã nát trộn với 1,5g bột Salicylate cho đều, cho thuốc vào băng keo, cắt thủng 1 lỗ bằng vùng bị chai một miếng băng keo khác dán lên chỗ chai rồi dán thuốc vào, cứ 10 ngày thay một lần, đã trị 2040 ca kết quả đều tốt (Tạp chí Trung y Triết giang 1984,4:166). 6.Trị ung thư: dùng dầu Nha đảm tử chế thành thuốc tiêm tĩnh mạch đã thử nghiệm dược lý trên cơ thể nhận thấy thuốc có tác dụng đối kháng với nhiều loại tế bào ung thư. Theo kết quả báo cáo của 16 đơn vị đã dùng trị 388 ca ung thư thời kỳ giữa và cuối, tỷ lệ có kết quả 71,6%. Đối với ung thư thực quản, dạ dày, trực tràng, cổ tử cung có kết quả nhất định, đối với ung thư phổi đã di căn lên não có tác dụng kéo dài tuổi thọ. Thuốc còn có tác dụng miễn dịch và làm tăng tế bào bạch cầu (Trung quốc y dược báo 1985). Liều lượng thường dùng và cách dùng: Theo sách Trung dược học: Mỗi lần 10 - 15 hạt (trị sốt rét), 10 - 30 hạt (trị lî), hoặc 1,5 - 2,0g bỏ vỏ dùng nhân. Thuốc rất đắng không nên cho vào thuốc sắc mà cho vào bọc nhựa uống. Hoặc ép bỏ dầu chế thành hoàn hoặc viên. Dùng ngoài tùy yêu cầu. Liều trẻ em 1 hạt cho mỗi tuổi. Thuốc gây kích ứng dạ dày và ruột, hại gan thận, bệnh khỏi nên ngưng thuốc ngay, không được kéo dài. Không nên dùng đối với bệnh nhân mắc bệnh gan, thận, có tiền sử chảy máu ruột dạ dày, tỳ vị hư nhược. Cách dùng thuốc theo sách của GS Đỗ tất Lợi: Viên Nha đảm tử 5mg: Trẻ em 1 tuổi: ngày 2 - 4 viên. Trẻ 2 tuổi: ngày 3 - 6 viên. Trẻ 3 tuổi: ngày 4 - 8 viên. Trẻ 4 tuổi: ngày 5 - 10 viên. Trẻ trên 4 tuổi dùng viên Nha đảm tử 20 mg, mỗi ngày 5 - 10 viên. Có thể uống 15 - 20 viên chia nhiều lần uống, mỗi lần 1 - 2 viên. http://caychumngay.com.vn/productView_426__742.html