Monday, September 23, 2013

Điều trị hỗ trợ ung thư bằng thảo dược

Điều trị hỗ trợ ung thư bằng thảo dược Đông y đã có nhiều kinh nghiệm quý để điều trị một số thể ung thư, ức chế các khối u phát triển. Trong khi các nhà khoa học tìm cách bào chế thuốc chữa ung thư từ thảo dược, bệnh nhân có thể sử dụng một số cây thuốc để hỗ trợ điều trị bệnh này. Thuốc cổ truyền trị ung thư thường có các vị: đương quy Trung Quốc, đương quy Nhật Bản, phụ tử, đinh hương, uy linh tiên, trinh nữ hoàng cung, đu đủ, tam thất, nghệ và những vị khác. Đương quy: Cây đương quy Nhật Bản (Angelica acutiloba) đã được di thực, thuần hóa tại nước ta. Thí nghiệm trên động vật cho thấy, hợp chất polysacharid từ rễ cây này có tác dụng phục hồi miễn dịch đối với những tổn thương do hóa trị; giúp thương tổn cấu trúc của lách và tủy xương phục hồi gần bằng mức bình thường. Trong ống nghiệm, polysacharid đương quy làm tăng lượng tế bào lim-phô T nói chung và tế bào lim-phô T hoạt động, đồng thời phục hồi khả năng tạo hồng cầu của tế bào này. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy đương quy bảo vệ hệ thống miễn dịch đối với những bệnh nhân ung thư vòm họng đang điều trị bằng tia xạ. Thuốc làm tăng sức đề kháng, tăng chất lượng hồng cầu và hạn chế sự suy giảm tỷ lệ huyết sắc tố. Trên bệnh nhân ung thư vú đang điều trị bằng tia xạ và hóa chất hoặc trên bệnh nhân ung thư các loại đang dùng đa hóa trị liệu, polysacharid đương quy với liều 1 g mỗi ngày có tác dụng bổ trợ miễn dịch, giúp phục hồi sớm một số dòng tế bào máu (bạch cầu, tiểu cầu, tế bào lim-phô T) đã bị giảm do trị liệu với hóa chất và tia xạ. Nghệ: Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh nghệ có tác dụng dự phòng ung thư dạ dày, ung thư da, ung thư vú và ung thư gan; giảm số lượng và kích thước các ổ ung thư. Hoạt chất curcumin chiết xuất từ củ nghệ có khả năng dự phòng và điều trị ung thư do ngăn chặn sự tăng sinh của nhiều loại tế bào u khác nhau. Curcumin còn có tác dụng chống viêm và chống ôxy hóa mạnh. Trong thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ung thư, việc sử dụng currumin với liều 10 g/kg tỏ ra an toàn, không gây những tác dụng không mong muốn. Chàm lá nhỏ: Một loại thuốc viên của y học cổ truyền Trung Quốc bào chế từ chàm lá nhỏ và một số vị khác đã được dùng điều trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính. Chàm lá nhỏ được chứng minh là thành phần chính có tác dụng chống căn bệnh này. Chất indirubin trong chàm lá nhỏ có hiệu quả điều trị rõ rệt với khối u ở động vật và với bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính trên người. Hoàng liên, hoàng bá: Là các dược liệu chứa berberin, có trong bài thuốc trị ung thư của y học cổ truyền Trung Quốc. Berberin ức chế sự sinh trưởng tế bào u gan ở người, làm chậm sự tăng sinh các tế bào bệnh bạch cầu trên động vật thí nghiệm và các tế bào ung thư vòm họng, ung thư dạ dày, các tế bào bệnh bạch cầu tiền tủy bào, các tế bào ung thư miệng và ung thư kết tràng. Hoàng cầm: Hoàng cầm có trong bài thuốc trị ung thư của y học cổ truyền; chứa các flavonoid, baicalein, baicalin, wogonin và wogonosid...Baicalin ức chế sự sinh trưởng các tế bào u gan của người và các tế bào ung thư tuyến tụy. Baicalin, baicalein và wogonin có tác dụng độc hại đối với các tế bào ung thư bàng quang ở người và động vật thí nghiệm, trong đó baicalin có tác dụng mạnh nhất. Baicalein cũng ức chế sự tăng sinh của 3 dòng tế bào ung thư gan của người, nhiều dòng tế bào ung thư tiền liệt tuyến, các tế bào bệnh bạch cầu lym-phô và các tế bào ung thư vú ở người. Baicalein và wogonin làm thuyên giảm u não, ngăn chặn sự xâm nhập và di căn các tế bào u hắc sắc tố. Vân mộc hương: Vân mộc hương có bài thuốc chống ung thư của y học cổ truyền, chứa các hoạt chất lappadilacton, dehydro-costuslacton và costunolid, có tác dụng độc hại đối với các dòng tế bào ung thư gan của người. Tam thất, trinh nữ hoàng cung, đu đủ: Trên mô hình gây u báng thực nghiệm trên động vật bằng cấy tế bào ung thư ác tính, cao chiết tam thất và chế phẩm panacrin sản xuất từ tam thất, trinh nữ hoàng cung, đu đủ đã làm giảm sinh khối của u báng, do đó làm giảm tốc độ phát triển khối u. Panacrin hạn chế sự di căn của tế bào ung thư và kéo dài thời gian sống của động vật mang khối u được điều trị với thuốc lên gần gấp đôi. Chỉ thiên: Deoxyelephantopin từ chỉ thiên ức chế đáng kể sự phát triển của ung thư biểu mô. Dihydroelephantopin ức chế sự phát triển những tế bào ung thư bệnh bạch cầu. Các bài thuốc: Chữa di căn bệnh bạch cầu lim-phô: Cỏ chỉ thiên trộn với muối và giấm, giã nhỏ và đắp vào nơi tổn thương. Điều trị hỗ trợ ung thư cho bệnh nhân không bị giảm thể trọng: Đương quy 15 g, bạch thược 10 g, nghệ 10 g, vân mộc hương 6 g, đinh hương 5 g. Sắc uống ngày một thang, chia 3 lần. Chữa u báng và kết hạch: Xạ can 10 g, nghệ đen 8 g, xuyên khung 6 g. Sắc uống ngày một thang. Trị bệnh bạch cầu hạt: Bột chàm mỗi lần uống 0,9-1,5 g, ngày 3 lần. Trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính: Đương quy 15 g; hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm mỗi vị 10 g; vân mộc hương, bột chàm mỗi vị 5 g. Sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần uống. Điều trị hỗ trợ ung thư các cơ quan đường tiêu hóa, ung thư vú, ung thư tử cung: Đương quy 15 g; bạch thược, gừng mỗi vị 10 g, vân mộc hương 4 g, đinh hương 4 g. Sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần uống. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống) http://hdp.com.vn/vi/ung-thu-1/182-dieu-tri-ho-tro-ung-thu-bang-thao-duoc.html

No comments:

Post a Comment